phân tích thu ẩm

Với Thu ẩm, nhà thơ đã viết nên một áng thơ mang đậm dấu ấn và âm hưởng riêng của một Nguyễn Khuyến tài tình và tinh tế, qua đó bộc lộ tâm sự, nỗi buồn về vận nước. Niềm yêu nước của Nguyễn Khuyến biểu hiện thâm trầm, kín đáo mà không kém phần sâu sắc. ‎Sổ Thu Chi MISA (MISA MoneyKeeper) là ứng dụng quản lý chi tiêu cá nhân số 1 Việt Nam. Ứng dụng sẽ giúp bạn ghi chép các khoản thu chi một cách nhanh chóng, dễ dàng. Cùng với các báo cáo phân tích thu chi trực quan, khoa học giúp bạn luôn kiểm soát được tài chính của mình. Dữ liệu sẽ được lưu trữ v… Trong hiện tượng ẩm bào, dung dịch hoặc các giọt nhỏ bị nhấn chìm vào trong tế bào. đặc biệt đối với các thuốc được hấp thu bằng vận chuyển tích cực (ví dụ như vitamin B), hòa tan chậm (ví dụ như griseofulvin) hoặc phân cực (nghĩa là có độ hòa tan trong lipid Vay Tienonline Me. I. DÀN Ý. 1. Mở bài - Thu ẩm là một trong ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến - Bài thơ cho thấy dáng thu, hồn thu của làng quê đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời thể hiện tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đau thương của đất nước. 2. Thân bài + Hai câu đề Ba gian nhà có thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. - Cảnh thu ban đêm nơi làng quê nghèo khó với những hình ảnh quen thuộc được quan sát và miêu tả qua đôi mắt đầy tâm trạng của thi nhân Ba gian nhà cỏ lợp tranh hoặc rạ, thấp le te là rất thấp, tưởng như bị bóng tối đè nặng nên biến dạng. - Ánh sáng lập loè của đom đóm làm cho ngõ hẹp càng thêm tối và đêm thêm sâu khuya. + Hai câu thực Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn áo lóng lánh bóng trăng loe. - Quan sát và cảm nhận của thi sĩ rất tinh tế sương thu như màu khói nhạt phủ quanh lưng giậu. Giậu là bờ rào bằng cây, thường trồng cúc tần hay dâm bụt. Bóng trăng soi trên mặt ao lăn tăn gợn sóng, lúc tụ lại, lúc tản ra, tạo cảm giác là bóng trăng loe. - Các phụ âm đầu 7 đứng gần nhau Làn, lóng lánh, loe đặc tả cảnh đó và thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến. + Hai câu luận Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vậy cũng đỏ hoe. - Đối tượng miêu tả thứ nhất là bầu trời xanh ngắt như chất chứa cái gì đó bên trong, khiến nhà thơ băn khoăn tự hỏi ai nhuộm mà xanh ngắt. Đại từ phiếm chỉ ai lấp lửng một mối hoài nghi không lời giải đáp. - Đối tượng miêu tả thứ hai là chính bản thân nhà thơ Mắt lão không vậy cũng đỏ hoe. Đôi mắt chứa chất đầy tâm trạng. + Hai câu kết Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy, Chỉ dăm ba chén đã say nhè. - Từ hay có hai nghĩa hay uống rượu thường xuyên; hay tức là tửu lượng cao. Ở câu thơ này, từ hay mang nghĩa thứ hai, Rượu tiếng rằng hay nhưng chỉ dăm ba chén đã say nhè. Say do rượu thì ít mà say do tâm trạng thì nhiều. Nhà thơ muốn mượn rượu để quên đi nỗi buồn đang đầy ắp trong tâm hồn. * Nghệ thuật của bài thơ - Bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, niêm luật rất chính nhưng vẫn dung dị, tự nhiên. - Nguyễn Khuyến có nhiều sáng tạo trong cách gieo vần và sử dụng từ ngữ, hình ảnh đậm đà tính chất dân tộc. 3. Kết bài - Tâm trạng u hoài của nhà thơ Nguyễn Khuyến thấm đượm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hồn thu của làng cảnh quê hương. - Nhà thơ buồn bã, day dứt khôn nguôi trước tình cảnh nô lệ của dân tộc, đất nước mà mình thì lực bất tòng tâm. Mượn rượu giải sầu mà nỗi sầu càng thêm chồng chất. II. BÀI LÀM Thu ẩm có nghĩa là mùa thu uống rượu. Đây là một trong ba bài thơ Nôm nói về mùa thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Thu điếu Mùa thu câu cá, Thu vịnh Mùa thu làm thơ, Thu ẩm Mùa thu uống rượu. Chùm thơ này là dáng thu, hồn thu của đồng bằng Bắc Bộ thời xưa. Mỗi bài thơ mang những dáng thu riêng và những nét tâm tình riêng. Thấm đượm vào cảnh vật là tâm trạng băn khoăn, u uất của nhà thơ trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Dáng thu trong Thu vịnh thăm thẳm, xa vời, quen mà lạ. Trời thu thì xanh ngắt những mấy từng cao; khóm tre thu nhỏ lại trong hình ảnh cần trúc; sương như khói phủ thành tầng trên mặt nước ; song thưa để mặc bóng trăng vào ; hoa năm nay bỗng thành hoa năm ngoái, tiếng ngỗng thảng thốt, mơ hồ... Hồn thu như lắng chìm vào bên trong, ẩn chứa ở chiều sâu. Dáng thu, hồn thu ở bài Thu điếu lại chất chứa trong sự thu nhỏ và lặng im của cảnh vật chiếc thuyền cậu bé tẻo teo, nước biếc trên mặt ao chỉ gợn tí, lá vàng khẽ rơi vào không thành tiếng, tiếng cá đớp động rất nhẹ dưới chân bèo. Tất cả đều im lìm, tĩnh mịch. Tưởng chừng như ông cậu cũng hoả đá trong tư thế tựa gối ôm cần. Tâm tư cụ Tam Nguyên ngụ trong sự chờ đợi mỏi mòn giữa không khí yên lặng gần như tuyệt đối. Đối lại với hai bài thơ thu kia mấy dòng như vậy là có ý so sánh để nhìn được rõ hơn dáng thu, hồn thu và tâm tư nhà thơ trong bài Thu ẩm này. Ở đây, dáng thu, hồn thu và cả tâm tư nhà thơ có khác. Cảnh vật vẫn là những cảnh vật quen thuộc. Từ nhà, từ vườn của cụ Tam Nguyên nhìn ra cánh đồng, cái ao, rặng tre, hàng giậu, ngõ xóm quanh co, hun hút, trời xanh trên đầu, khỏi phủ mặt nước, bóng trăng trong ao. Khác một chút là ở đây, Nguyễn Khuyến không còn là nhà thơ, là ông câu mà là ông già khẽ khà chén rượu giải sầu. Nhưng cũng chính vì cái khác ấy mà cảnh vật dường như biến đổi, đầy bất ngờ và thú vị. Hai câu đề Ba gian nhà có thấp le te, Ngõ tối đêm sâu, đóm lập loè. Nhà tranh mà gọi là nhà có thì giá trị đã hạ xuống một bậc nhưng chữ nghĩa khác nhau chưa mấy. Nhưng thấp le te thì đã rõ ra là lụp xụp và chẳng còn lành lặn, mái tranh đã rách nát, xác xơ đổi dạng. Tiếp theo, ngõ tối và đêm sâu là cảnh bình thường nhưng ánh lửa đom đóm lập loè lúc tối, lúc sáng làm cho ngõ tối và đêm sâu cũng biến dạng. Hai câu thực Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn áo lóng lánh bóng trăng loe. Sương thu lớt phớt như làn khói mỏng phủ lên bờ giậu, khiến cho rằng cây cũng nhạt bớt màu đêm. Đặc biệt tài tình là hình ảnh mặt ao lăn tăn gợn sóng, lóng lánh bóng trăng. Bóng trăng trên mặt nước lúc dồn lại, lúc loe ra, biến dạng liên tiếp. Hai câu luận Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vậy cũng đỏ hoe. Nguyễn Khuyến tả cảnh trời và cảnh mình. Dường như bầu trời và con người đều bị một thế lực vô hình nào đó làm cho biến đổi Da trời không biết ai nhuộm mà xanh ngắt, mắt mình không vậy sao cũng đỏ hoe? Hay là do say rượu ? Say rượu cũng thường đỏ mắt. Chữ ai trong câu thơ lấp lửng một mối hoài nghi. Lấp lửng nhưng không vô ý. Đây cũng là biểu hiện tâm trạng của nhà thơ chăng ? Hay là nó cũng cùng một mạch với cảm nhận hoa năm nay mà nhìn ra hoa năm ngoái và nghe tiếng ngỗng văng vẳng trên không mà giật mình tự hỏi là ngỗng nước nào ? Tâm tư nhà thơ trĩu nặng trước cảnh đất nước bị lũ giặc ngoại xâm giày xéo mà mình thì đau đớn, day dứt không nguôi. Cuối cùng là tửu lượng của nhà thơ cũng chẳng còn bình thường Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy, Chỉ dăm ba chén đã say nhè. Tại sao cảnh vật lại có sự biến hình đổi dạng như thế ? Do người nhìn say rượu chăng bởi khi say thì nhìn một hoá thành hai, thành ba hoặc nhạt nhoà tất cả. Sự vật biến đổi hình dáng, màu sắc, đường nét rối lên, nhoè ra, chập lại, lảo đảo như say. Âm thanh bài thơ cũng theo điệu ấy. Rõ nhất và cũng bất ngờ nhất, thú vị nhất là ở các từ le te, lập loè, loe, đỏ hoe, say nhè. Tất cả các từ quy vào âm chủ đạo là e từ nhe, say nhè mà ra rồi nhoè ra thành nguyên âm đôi oè lập loè, oe loe, hoe, các vần này cũng lảo đảo say theo, say mạnh hơn. Cảnh vật cũng như say ánh sáng đom đóm hoả lập loè, bóng trăng chập chờn loe ra theo làn sóng, mắt người tự nhiên cũng đỏ hoe. Trong câu Làn áo lóng lánh bóng trăng loe có đến bốn tiếng có phụ âm nối tiếp nhau, càng làm tăng gấp bội cái cảm giác ngứa nghiêng, chao đảo không chỉ ở bóng trăng mà ở cả mặt ao, làn nước và từ đó lan toả ra toàn bài để rồi kết thúc bằng hai chữ say nhè. Nhà thơ một mình đối diện với bầu rượu trong đêm thu vắng. Sau dăm ba chén, hơi men đã khơi dậy tâm tư. Nỗi xúc động sâu xa trong tâm hồn nhà thơ thấm vào cảnh vật, đồng điệu với dáng thu, hồn thu. Cái hay, cái tài của bài thơ Thu ẩm là ở đó. Nhà thơ buồn bã, day dứt không nguôi trước vận nước rối ren, đành mượn vài chén rượu giải khuây nhưng càng uống lại càng thấy nỗi niềm đó hiện ra rõ rệt hơn, làm lảo đảo đến cả cảnh vật đêm thu. Đã có lúc không uống rượu và tâm trạng dường như vui hơn, cụ Tam Nguyên tự cười mình và cũng thấy mình chuếnh choáng Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say kia mà! Đề bài Phân tích bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến. Lời giải chi tiết Thu ẩm Nguyễn Khuyến Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy, Độ năm ba chén đã say nhè. “Rượu”, “hoa”, “trăng”… là những thú tiêu khiển thanh cao của các tao nhân mác khách xưa nay. Bài thơ “Nâng chén, hỏi trăng” của Lý Bạch rất được nhiều người yêu thích Người nay chẳng thấy trăng thời trước Người trước, trăng nay soi đã từng Người trước, người nay như nước chảy Cùng xem trăng sáng đều thế đấy Chỉ ước vui ca thưởng chén quỳnh Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi”. Tương Như dịch Tam Nguyên Yên Đổ cũng có nhiều câu thơ rất đậm đà ý vị nói về rượu Khi vui chén rượu say không biết Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa Cáo quan về ở nhà Em cũng chẳng no mà chẳng đói, Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu Lụt, hỏi thăm bạn Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua… Và còn có Thu ẩm – mùa thu uống rượu. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Câu thơ đã diễn tả trạng thái ngà ngà say… đến “say nhè” “Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy – Độ năm ba chén đã say nhè”. “Say nhè” là say êm, say nhẹ, say rồi ngủ quên đi lúc nào chẳng biết. Chẳng phải là say bét nhè, bê tha. Nguyễn Khuyến rất thanh cao, chỉ có “năm ba chén” nhỏ, đúng là cái thú “Khi vui chén rượu say không biết” hoặc “Khi hứng uống thêm năm chén rượu – Khi buồn ngâm láo một câu thơ” Đại lão Trong sáu câu thơ đầu thì đã có đến năm câu đều có màu sắc thể hiện một cái nhìn đếm thu lúc ngồi uống rượu một mình. Có màu đen thẫm mịt mùng của đêm sâu “ngõ tối”. Có ánh sáng “lập loè” của bầy đom đóm. Có sắc trắng nhờ của “màu khói nhạt” nhẹ bay “phất phơ” trên lưng giậu cúc tần trước sân của năm gian nhà cỏ bình dị. Có màu vàng của bóng trăng loe tan ra “lóng lánh” trên làn ao “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” trong veo. Có da trời màu “xanh ngắt” rất đẹp. Và sắc “đỏ hoe” của đôi mắt ông lão, của thi nhân đang uống rượu âm thầm. Cảnh vật có đường nét cao, thấp, xa, gần, mỏng và nhẹ. Độ “thấp le te” của ngôi nhà cỏ năm gian. Độ sâu của đêm khuya và “ngõ tối” nơi làng quê vùng đồng chiêm trũng. Độ nhẹ vờn bay “phất phơ” của màu khói nhạt. Chiều đo “thấp” của “lưng giậu”, nét gợi của “làn ao”, vòng tròn của “bóng trăng loe” trên mặt “ao thu lạnh lẽo”, độ xa, cao, rộng của bầu trời, chân trời, độ hõm của đôi mắt “đỏ hoe” đã “say nhè”. Màu sắc ấy, đường nét ấy qua cái nhìn chập chờn, tỉnh say say tỉnh của nhà thơ. Màu sắc đường nét ấy là màu sắc của tâm tưởng, là đường nét của tâm trạng. Còn đâu nữa, chén rượu tri âm của đôi bạn “đăng khoa ngày trước?”. Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân? Nay nhà thơ chỉ còn uống rượu trong đêm sâu, âm thầm, lặng lẽ và cô đơn. Cao Bá Quát nửa đầu thế kỷ XIX chỉ uống rượu “tiêu sầu”. Còn Nguyễn Khuyến “đêm thu nay’’ uống rượu cho vơi đi nỗi buồn thế sự “Rằng quan nhà Nguyễn nhà Nguyễn cáo về đã lâu” uống rượu để thao thức, thao thức nên uống rượu để vơi đi nỗi đau cuộc đời “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi – Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ” Cuốc kêu cảm hứng. Vợ chết, con mất, bạn chí thân qua đời, tuổi già, ốm đau, Nguyễn Khuyến mượn “năm ba chén rượu” để vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn Đời loạn đi về như hạc độc, Tuổi già hình bóng tựa mây côi Gửi bạn Hình như chén rượu của nhà thơ đã tràn đầy nước mắt? Hai câu kết ý tại ngôn ngoại. Thấm một nỗi buồn mênh mông. Người đọc vô cùng xúc động khi thấy nhà thơ “say nhè” nằm ngủ Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy, Độ năm ba chén đã say nhè Cả bài thơ, ngoài đầu đề Thu ẩm ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này. Các từ láy “le te”, “lập loè”, “phất phơ”, “lóng lánh”… với các từ “rượu”, “chén”, “say nhè” – cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm. Trước Nguyễn Khuyến gần 500 năm, Nguyễn Trãi có câu thơ Sách một hai phiên làm bầu bạn Rượu năm ba chén đổi công danh Tự thán – 10 Sau khi Nguyễn Khuyến mất gần nửa thế kỷ, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có câu thơ nói về rượu “Du kích quy lai tửu vị tàn”. Thu dạ, 1948 Đó là những chén rượu một thời, cũng là những chén rượu một đời. Chén rượu của các thi nhân – chén rượu thanh cao và sang trọng. Mùa thu ở đất Bắc là khoảng thời gian kết thúc cái oi nồng của mùa hạ, chưa kèm theo mưa dầm gió bấc của mùa đông. Mùa thu đẹp vì có những đêm trăng vằng vặc, những ngày xanh thắm tuyệt vời. Đối với các nhà thơ cận đại, kể cả các nhà Thơ mới nữa thì mùa thu là mùa của cảm xúc, của thương nhớ. Trong làng thơ Việt Nam sau Nguyễn Khuyến, Tương Phố, Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu... đều có những bài thơ thu nổi tiếng. Tuy vậy, giữa Tam nguyên Yên Đổ và các nhà Thơ mới đang có một khoảng cách. Thơ thu Nguyễn Khuyến là thơ của làng cảnh Việt Nam đậm đà chân thực dù tác giả có gửi gắm vào trong thơ ít nhiều tâm sự. Thơ của các nhà Thơ mới từ Giọt lệ thu Tương Phố, Tiếng thu Lưu Trọng Lư đến Đây mùa thu tới Xuân Diệu chỉ mượn cảnh thu, sắc thu, màu thu, âm thanh mùa thu để gửi gắm tâm trạng đượm buồn hay lưu luyến bâng khuâng trước đất trời đã chuyển sang thu. Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là hiện tượng độc đáo và là cống hiến xuất sắc của nhà thơ. Cả ba bài thơ đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài thơ là một phác thảo với nét bút của nền hội họa phương Đông, không rườm rà lòe loẹt mà cũng không gò bó khuôn sáo. Nhà thơ - họa sĩ họ Nguyễn đã đưa chúng ta về một vùng chân quê quanh năm ngập nước của đất Hà Nam đầu thế kỉ này vào độ thu sang. Thu vịnh phác họa khái quát những đặc điểm nổi bật về mùa thu. Thu điếu dừng lại ở một không gian và thời gian cụ thể trên một ao thu, vào một chiều thu, một ông già trên chiếc thuyền câu cá thả mồi đợi cá. Thu ẩm quan sát cảnh thu trong nhiều thời điểm khác nhau để thâu tóm những nét nên thơ nhất. Cảnh thu trong Thu vịnh đã được nhà thơ phác họa như thế nào? Phần lớn dung lượng bài thơ 6/8 câu là thơ tả cảnh. Biên độ không gian và thời gian không hạn chế một buổi sáng, một cảnh chiều, một đêm trăng đượm màu thu. Ta vẫn bắt gặp trời câu 1 và 2, nước câu 3, trăng câu 4, hoa câu 5, có điểm xuyết âm thanh vọng lại từ không trung cao vút, nhưng điệu thơ, hồn thơ thì đã vượt khỏi khuôn sáo kiểu tứ thời, tứ thú, tứ quý... của nét bút thơ và họa cổ điển. Đối chiếu với trời thu là sông thu vào sáng tinh mơ, lúc màn đêm đã vén hay vào lúc buổi chiều tà, lúc bóng ô vừa ngậm non đoài, thời điểm long lanh đáy nước in trời; nước biếc dội lên màu xanh thơ mộng tạo nên ảo ảnh màn khói mênh mông mà các nhà thơ cố điển thường gọi là yên ba giang thượng khói sóng trên sông. Trời thu và nước thu. Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc trời nước một màu là như vậy. Sau thu thiên, thu thuỷ là thu nguyệt. Trăng thu sáng dịu trong trẻo tuyệt trần. Xưa nay trăng vốn là bạn của thi nhân. Trăng là kẻ đồng hành Chè tiên, nước ghín, nguyệt đem về Nguyễn Trãi; Một trăng, một bóng một người hóa ba Nguyễn Huy Tự. Trăng là người chứng giám Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song Nguyễn Du. Có khi trăng là kẻ thọc mạch Gương ngà chênh chếch dòm sao Nguyễn Du. Nguyễn Khuyến không cài song để đón trăng và ngắm trăng, chẳng biết trăng ở đây có đòi thơ Tam nguyên Yên Đổ như nó đã lọt qua cửa sổ đòi thơ Hồ Chí Minh Trăng vào cửa sổ đòi thơ Nhật kí trong tù. Hẳn là chỉ có trăng thu mới thân quen với con người đến thế! Bây giờ đến hoa thu Mấy chùm trước giậu hoa năn ngoái, ý nhà thơ muốn nói Mấy chùm hoa trước giậu đã nở hoa từ năm ngoái nay lại đã trổ bông chăng? Và hoa thu chỉ là hoa cúc, một trong bốn loài hoa quý lan, sen, cúc, mai chọn mùa thu để trổ hoa. Điểm xuyết cảnh thu là tiếng ngỗng trời từ từng trên không xa tít vọng lại. Âm thanh không líu lo như con chim oanh học nói trong tiết xuân sang Truyện Kiều mà chỉ thoáng qua như nâng thêm tầm cao rộng của không gian; hẳn là đàn ngỗng bay nhanh về phương nam để tránh rét, thường bắt gặp trong kì thu muộn. Nhân hứng mà tác giả đã vẽ xong bức tranh thu. Say theo cảnh trí thơ mộng nhưng rồi chợt tỉnh. Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào - ông Đào Bành Trạch trao ấn từ quan từ hồi còn trẻ, trở về vui với cỏ hoa và non xanh nước biếc. Nguyễn Khuyến cũng đã vứt miếng đỉnh chung về ở ẩn tại quê nhà. Có lẽ danh nho Nguyễn Khuyến cũng đã vứt miếng thẹn với ông Đào bởi vì ông tự hào cho là mình từ quan hơi muộn? Với Thu vịnh, ta cảm thấy thu bằng nhân hứng chung mà nhà thơ để lại; với Thu điếu chúng ta có một thú vui nhỏ mà cũng rất hấp dẫn. Nơi quê hương nhà thơ trước đây lắm ao, lắm vũng. Có lẽ không riêng gì Nguyễn Khuyến mà dân quê cả vùng, nhất là các ông già, lúc rảnh rỗi thường lên thuyền nan ngồi thả mồi đợi cá, coi đó là một lạc thú tiêu khiển chăng? Đối với cụ Tam Nguyên mùa thu câu cá quả là một lạc thú. Ông đẩy thuyền ra xa bờ để được đắm chìm trong thiên nhiên bao la, trời nước một màu. Chỉ có câu kết nói đến chuyện thả câu, bài thơ chủ yếu ghi nhận những diễn ra quanh mình. Ở đây mọi chi tiết đều được chắt lọc sao cho mỗi cảnh sắc chỉ cần điểm một nét, cộng hưởng thành màu sắc thu đích thực và độc đáo. Ông kết hợp tuyệt diệu hình ảnh và từ ngữ. Cả bức tranh có vẻ tĩnh lặng nhưng từng chi tiết thì động và gợi cảm. Ao tliu lạnh lẽo nước trong veo nước tinh khiết và lạnh gây cảm giác khẽ rùng mình. Thuyền câu vốn nhỏ bé khi nhập vào không gian bao la càng trở nên bé xíu, bé tẻo teo. Ngư ông dường như cảm thấy mình quá bé -trước cái tối vĩ đại của tạo hóa! Thuyền vừa xa bờ, cảnh vật dẫn đến một cảm giác thu mới phảng lặng, trong xanh vốn là đặc tính của mặt nước ao thu, hồ thu. Chỉ thế mà sau này Tản Đà viết Trời xanh xanh, nước xanh xanh, khói lam xây thành. Màu biếc xao động khi gió thu khẽ khàng lướt qua. Hơi gợn tí nhưng cũng đủ mạnh để đưa chiếc lá già của cây cao gần bờ lìa cành đưa vèo xoay xoay giữa không gian theo chiều gió... Gió thu là như vậy. Bình giảng hai câu 3 và 4, Xuân Diệu đã viết “Thật tài tinh! Nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, dễ tương xứng với cái mức độ gợn của sóng tí”. Tác giả Đây mùa thu tới rõ ràng phát hiện đầy đủ tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến. Chắc là sau khi đã buông câu, nhà thơ mới có dịp ngẩng đầu nhìn trời và làng mạc vây quanh. Trời thăm thẳm một màu xanh. Vài đám mây bạc lững lờ trôi như tôn thêm độ cao xa của không gian Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt. Đường đi lối lại trong thôn uốn lượn vòng vèo, không ồn náo nhiệt như những ngày mùa mà êm đềm u tịch... Nhà thơ tựa gối ôm cần chìm đắm vào cảnh vật tựa sống trong mơ... Câu kết thúc Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tiếng động của cá đớp mồi đã trả nhà thơ về cõi thực. Nguyễn Khuyến là ông ngư trên chiếc thuyền nan mỏng manh. Vớỉ Thu ẩm, nhà thơ Hà Nam đưa chúng ta về nhiều thời điểm khác nhau trong nhiều ngày để cảm nhận vẻ đẹp mùa thu. Mở đầu bài thơ, tác giả nói về một ngôi nhà xuềnh xoàng ở tận sâu trong làng Vị Hạ, nơi cụ thượng quan thường độc ẩm để tìm cách lãng quên thế sự; bởi vì người xưa đã nói chỉ có rượu mới phá được câu thành sầu. Từ năm gian nhà cỏ này ông nhập vào cảnh thu và quan sát những nét thu khi về chiều, vào đêm tối hay buổi trăng thu viên mãn. 27iỉ/ ẩm thường diễn ra trong ngôi nhà này vào những thời điểm kể trên. Không có bóng dáng buổi mai hồng hay thời chính Ngọ trong thơ thu. Phải chăng những thời điểm đó không hợp với tâm trạng của nhà thơ? Hai buổi đêm và một buổi chiều lần lượt xuất hiện trong Thu ẩm. Một đêm không trăng dày đặc bóng tối bao trùm lấp đường ngõ, lập lòe ánh sáng đom đóm vây bủa đường thôn Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe. Một đêm khác trăng soi vằng vặc, bóng trăng vàng từ mặt nước ao lóe ra, bốn chữ một gợi chất vàng [đang dàn trải] ba dấu sắc khứ thanh gợi ánh bắn đi loe lại [vòng tròn lan toả] Xuân Diệu. Nguyễn Khuyến dùng thần bút để cực tả đêm thu. Một buổi chiều nhẹ thênh từ nhà cỏ hay từ bếp nhà ai tỏa ra làn khói lam chiều? Một nét thân thương và trìu mến biết bao! Và một buổi chiều khác không còn tầng mây lơ lửng, chỉ có da trời ửng màu biếc bao la vô hạn. Nét phác họa đặc thù này vốn là sở trường của Nguyễn Khuyến. Phần kết, tác giả đã gửi gắm ít nhiều tâm sự Mắt lão không vầy củng đỏ hoe... Rượu năm ba chén đã say nhè. Đâu phải vô cớ mà mắt lão Nguyễn đỏ hoe. Cũng không phải vô cớ mà lão uống ít say nhiều say không tự chủ được sinh lè nhè. Ông uống rượu để tiêu sầu nhưng sầu đâu có dứt! Trong bộ ba thơ thu tuy tác giả không trực tiếp nói đến nhưng vẫn không sao che giấu nổi tâm sự nước non đầy vơi dường như chi phôi cả cuộc đời và cảm hứng thơ văn của tác giả. Quý thay Nguyễn Khuyến! Ba bài thơ thu là những viên ngọc quý trong vườn thơ Việt Nam. Nó đậm đà màu sắc quê hương đất nước. Hình tượng và ngôn ngữ thơ đạt đến đỉnh cao của sự giản dị mà đầy chất thơ. Từ nét bút tạo hình đến các thủ pháp nghệ thuật khác như sử dụng từ ngữ trau chuốt, chính xác, đối ngẫu rất chỉnh, gieo vần phong phú độc đáo kể cả từ vận, kết hợp nhạc điệu và âm thanh tinh tế... cả ba bài đều viết theo thể thơ Đường hoàn chỉnh nhưng khi đọc không có cảm giác đó là thể thơ ngoại lai. Nối gót nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các nhà thơ Nôm lớp trước, Nguyễn Khuyến đã góp phần Việt hóa thể thơ ngoại nhập này. Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm xứng đáng được trao giải nhất trong toàn bộ thơ về làng cảnh Việt Nam.

phân tích thu ẩm